PDA

View Full Version : Anh hùng hai quê


Quê Tôi
25-04-10, 10:32 PM
Trên tấm bia ghi danh các liệt sĩ tại xã Nam Thanh, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An có một cái tên mà bản quán của anh không phải ở vùng đất này. Bốn mươi mốt năm rồi, kể từ tháng 3/1969, dòng chữ khắc tên anh trên bia đã nhòe cùng năm tháng, song với người dân vùng Nam Đàn, Tân Kỳ, dòng tên ấy mãi mãi tinh khôi. Anh là Đinh Thanh Kháng, Anh hùng LLVTND, người dân tộc Ca Dong, quê xã Sơn Dung, huyện vùng cao Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi.

http://i801.photobucket.com/albums/yy293/danhchoem_album/ngaydem-net/images334607_Anhhung1.jpg
Ngôi nhà tình nghĩa mà huyện Nam Đàn xây tặng mẹ con bà Lý. Ảnh:T.Đ

Vậy là, anh Kháng đã có hai quê, một quê nơi anh sinh ra và lớn lên cho đến năm 16 tuổi (1954) ở vùng rừng huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi và một quê nơi anh gửi cả tuổi trẻ của mình ở đó, kể cả hai giọt máu của đời mình cùng người vợ trẻ, nay sắp thành bà lão mắt mờ tai nặng ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Sinh Bắc tử Nam hay sinh Nam tử Bắc trong chiến tranh là chuyện thường tình nhưng với Đinh Thanh Kháng, những câu chuyện về đời anh là một chuỗi những thanh âm bi tráng, như thể định mệnh đã vận vào người anh hùng duy nhất của bộ tộc Ca Dong này.

Đi tìm nguồn cội

Bây giờ, về làng Gò Lả xã Sơn Dung, huyện Sơn Tây, hỏi Đinh Thanh Kháng, từ người già cho đến lớp thanh niên, tất cả đều lắc đầu. Người duy nhất xác nhận Đinh Thanh Kháng sinh ra ở làng Gò Lả là anh Đinh Huy Đôi, hiện là Phó huyện đội trưởng Sơn Tây, nhưng cũng khá lờ mờ: “Anh Kháng là người bà con trong họ của tôi. Lúc nhỏ, tôi có nghe bố tôi kể sơ qua về anh nhưng cũng không rõ lắm”. Bởi, khi Đôi chào đời thì cũng là lúc Kháng từ giã lớp thiếu sinh quân trong kháng chiến chống Pháp để lên đường ra Bắc năm 1954.

http://i801.photobucket.com/albums/yy293/danhchoem_album/ngaydem-net/images334608_Anhhung2.jpg
Trên bà thờ Anh hùng Đinh Thanh Kháng không một di ảnh. Ảnh:T.Đ

Gần như những người thân thiết nhất của Đinh Thanh Kháng ở xã Sơn Dung hiện nay cũng không còn ai nữa. Ngay cả những cán bộ cách mạng lão thành trong huyện cũng không một ai biết về anh. Cho đến khi, anh trở thành người Anh hùng duy nhất của bộ tộc Ca Dong, người ta mới chợt nhận ra rằng, đứa con thân yêu của họ đã gửi cả tuổi trẻ và thân xác của mình ở tận huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An.

Bắt đầu từ một dòng tin ngắn ngủi trên báo năm 2000, đăng danh sách những người được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có tên Đinh Thanh Kháng, sinh năm 1938, quê xã Sơn Dung huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi, hy sinh ngày 10/3/1969 tại huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An.

Sau nhiều lần liên lạc với tỉnh Nghệ An để tìm “dấu tích” của Đinh Thanh Kháng, năm 2001, ông Đinh Như Tro, bấy giờ là Chủ tịch UBND huyện Sơn Tây quyết định lên đường ra Nam Đàn để “tìm cho bằng được”.

Ông Tro nhớ lại: “Chúng tôi quyết định đi tìm tung tích anh Kháng, phần vì anh là người Anh hùng duy nhất của người Ca Dong ở Sơn Tây, phần vì trách nhiệm đối với một đứa con của bộ tộc hiện không còn ai là người thân thích ở chính mảnh đất sinh ra anh nữa”.

Sau nhiều ngày lặn lội, ông Tro cùng đoàn cán bộ của huyện Sơn Tây đặt chân lên xã Nam Thanh huyện Nam Đàn. Bà Nguyễn Thị Lý, vợ Đinh Thanh Kháng, mở cửa đón khách ở quê chồng ra thăm mà lòng nửa tin nửa ngờ.

Ngôi nhà tình nghĩa mà huyện Nam Đàn xây tặng mẹ con bà Lý chợt ấm lên khi nghe những âm thanh quen thuộc từ giọng nói của những người Ca Dong, giọng nói mà hơn 20 năm rồi bà không còn được nghe từ người chồng thân yêu của mình nữa.

Ông Tro thắp nén hương lên bàn thờ không một di ảnh của liệt sĩ Đinh Thanh Kháng rồi khấn như một lời tạ lỗi: “Chúng tôi đã quá trễ để tìm ra anh, tất cả cũng do chiến tranh, mong anh xá cho. Chúng tôi hứa sẽ trở lại trong một ngày sớm nhất”. Bà Lý và em Chiến, một trong hai người con gái của họ, gạt nước mắt: “Vậy là từ nay, anh và bố đã có quê rồi”.

Trái bom thứ 1.000

Trong hồ sơ đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Đinh Thanh Kháng mà Huyện đội Nam Đàn còn lưu giữ, người ta không thống kê anh Kháng đã phá bao nhiêu trái bom nhưng những “giai thoại” về người anh hùng phá bom nổ chậm này thì nhiều vô kể. Người thì nói anh phá trái bom thứ 600, có người lại “đính chính”, cho đó là trái bom thứ 1.000.

Trái bom thứ bao nhiêu, không quá quan trọng, điều mà tất cả những ai từng sống ở vùng tây Nam Đàn và Tân Kỳ còn lưu giữ, là hình ảnh một anh bộ đội miền Nam, nói tiếng Kinh còn lơ lớ, ba lô đeo lưng, đựng đủ thứ đồ nghề phá bom, trên chiếc xe đạp cà tàng, ngang dọc khắp vùng rừng phía tây tỉnh Nghệ An những năm chống Mỹ, để “cứu khổ cứu nạn” cho người dân sau những loạt bom rải thảm của Mỹ, giải phóng ruộng đồng cho bà con có đất sản xuất, giải phóng nhiều cung đường cho quân ta ra trận. Đó là anh bộ đội Đinh Thanh Kháng, thiếu úy, trợ lý công binh của Huyện đội Nam Đàn.

Vùng tây Nam Đàn và Tân Kỳ ngày ấy là cửa ngõ của nhiều tuyến đường “vào Nam” của quân giải phóng. Do vậy, vùng quê ấy trở thành túi bom của không quân Mỹ. Bom nhiều như khoai lang vùng cát. Sau khi Mỹ ngừng ném bom miền Bắc lần thứ nhất năm 1968, hàng ngàn trái bom chưa kịp nổ, giăng mắc khắp ruộng đồng, rừng núi vùng đất này. Nhu cầu tháo gỡ bom để người dân có đất sản xuất là rất lớn.

Đinh Thanh Kháng, sau 8 năm chiến đấu bên chiến trường Lào, năm 1964, anh được điều về Huyện đội Nam Đàn, làm trợ lý công binh. Đó cũng là thời kỳ ác liệt nhất trong chiến tranh chống Mỹ. Sự ác liệt đã vận vào tên đứa con gái đầu lòng của mối tình giữa anh bộ đội miền Nam với cô thanh niên xung phong Nguyễn Thị Lý. Bố tên Kháng, dù là gái nhưng đứa con đầu lòng của họ vẫn tên là Chiến.

Chiến chào đời năm 1966 trong tiếng bom gầm. Dù nhà không xa Huyện đội Nam Đàn là mấy, song chàng thiếu úy công binh ấy gần như dành hết thời gian cho việc chinh phục những trái bom nổ chậm. Những địa danh như Truông Bồn, Rú Trét, Cầu Mượu, đường 15… từng một thời là túi bom, là trọng điểm đánh phá suốt ngày đêm của giặc Mỹ, đều lưu dấu chân của Đinh Thanh Kháng.

Ông Võ Viết Thắng, nguyên là Huyện đội phó Nam Đàn, người trực tiếp làm hồ sơ để truy tặng Anh hùng cho Đinh Thanh Kháng nói: “ Anh Kháng được anh em đặt cho cái tên là “vua” phá bom nổ chậm. Hầu như anh không “đầu hàng” bất cứ một trái bom nào. Nhưng điều quan trọng nhất, làm nên phẩm chất của người anh hùng ấy không chỉ là thành tích phi thường trong phá bom mà cái chính là vì đồng đội, vì nhân dân, anh đã không tiếc thân mình”.

Ông Chiến kể rằng, anh Kháng đi đến “túi bom” nào, việc đầu tiên của anh là “mở lớp tập huấn” cho du kích xã nơi ấy để họ có thể tự mình phá được bom. Những quả bom nào khó chinh phục nhất, khi ấy anh Kháng có mặt ngay”.

Và trong một lần “có mặt” của Đinh Thanh Kháng ở Truông Bồn vào ngày 10/3/1969, trái bom định mệnh thứ 1.000, đã cướp đi sinh mạng đứa con của bộ tộc Ca Dong, không để lại bất cứ một di vật nào dù là nhỏ nhất.

Xương thịt Kháng đã tan vào đất Truông Bồn, đến nấm đất cho mộ anh bây giờ cũng không có nữa! Kháng trẻ mãi với tuổi 30 của đời mình nơi vùng quê ấy và thất lạc đến 21 năm sau, anh mới “gặp lại” quê qua những người anh chưa từng gặp mặt trong đời, hiện là lãnh đạo của huyện Sơn Tây.

Vĩ thanh

Ông Đinh Như Tro, hiện là Bí thư huyện Sơn Tây, đã giữ lời hứa với người đã khuất. Cả ông Tro lẫn ông Chủ tịch UBND huyện Sơn Tây, Phạm Tấn Hoàng trở lại Nam Thanh lần này, mang theo một nghĩa cử tri ân: Xây cho mẹ con bà Lý một ngôi nhà. Ngôi nhà tình nghĩa mà huyện Nam Đàn xây tặng bà cách đây 14 năm, giờ như thân chủ của nó. Bà Lý nay ngót nghét 70 nhưng lưng đã còng song song mặt đất. Cái nghèo cái khó chừng như chưa buông tha mấy mẹ con bà. Suất “lương” liệt sĩ của chồng không đủ để trang trải mấy mẹ con cùng đàn cháu ngoại lít nhít.

http://i801.photobucket.com/albums/yy293/danhchoem_album/ngaydem-net/images334612_Anhhung3.jpg
Bà Lý gặp lại những đồng hương quê chồng. Ảnh: T.Đ

Mỗi ngày một gánh củi trên lưng, trị giá 30 ngàn, là công việc thường nhật của mẹ con bà Lý bây giờ. Huyện Nam Đàn và xã Nam Thanh đã làm tất cả những gì có thể để giúp đỡ bà nhưng giúp ngặt chứ không thể cứu khỏi cảnh nghèo.

Hay tin huyện Sơn Tây có nhã ý tặng cho bà Lý ngôi nhà mới, lãnh đạo huyện Nam Đàn đã nói những lời chân tình: “Trách nhiệm này còn có cả chúng tôi nữa. Vì vậy, ngôi nhà mới cho vợ con anh Kháng sẽ là sự “hợp lực” từ hai phía, cả Nam Đàn lẫn Sơn Tây”.

Vậy là, tháng 7/2010 này, vợ con người anh hùng ấy sẽ có ngôi nhà mới mang tình nghĩa của cả hai quê. Nhưng đó mới chỉ là ngôi nhà, còn đôi vai trĩu củi mỗi chiều của bà Lý thì vẫn còn là một “gánh nặng” nữa.
Trên bàn thờ anh Kháng không còn một di ảnh nhưng tôi biết anh đang nở một nụ cười, dù chưa trọn vẹn.

Báo Quảng Ngãi