Hoang_philong
23-12-08, 12:01 AM
http://i517.photobucket.com/albums/u340/quangngai_group/YEUQUANGNGAI/bandohanhchinh.jpg
Có thể xem Quảng Ngãi như một vùng văn hoá đa dạng được nuôi dưỡng từ truyền thống văn hoá dân tộc nối tiếp nhau, tạo nên một sự hội tụ, kết tinh và thăng hoa về trí tuệ và tâm hồn của nhiều thế hệ con người Việt Nam để từ đó chuyển tiếp dần xuống phía cực Nam của tổ quốc.
Và cần phải nói đến văn hiến chứ không chỉ là văn hoá Quảng Ngãi, bởi lẽ, nói đến khái niệm văn hiến có nội dung bao quát cả văn hoá, văn minh, di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, trong đó di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, kho tàng tri thức phong phú về tri thức văn hoá dân gian… thể hiện một cách tổng thể cả địa lý học lịch sử, cả văn minh vật chất và văn minh tinh thần, đặc biệt là thể hiện ở con người Việt Nam “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt không bao giờ thiếu” như Nguyễn Trãi đã khẳng định.
Nói tới văn hiến Việt Nam, Nguyễn Trãi đã khái quát những truyền thống tốt đẹp tạo nên sức mạnh tinh thần bất diệt của dân tộc ta. Văn hiến Quảng Ngãi chính là sự kết tinh, sự thu nhỏ của văn hiến dân tộc Việt Nam và là sự biểu hiện đầy tập trung của nền văn hiến ấy trên mảnh đất miền Trung tuy hình thành muộn nhưng vẫn kết nối được toàn bộ nền văn minh của cả dân tộc bắt đầu từ thời các vua Hùng dựng nước. Nếu nói cái truyền thống là những gì còn lại sau khi tất cả đã qua thì văn hiến Quảng Ngãi chính là cái còn lại phản ánh tuyền thống văn hoá dân tộc của nước Việt Nam thống nhất; nếu nói cái còn lại phản ánh truyền thống bao giờ cũng là hiện thân của chân thiện mỹ thì văn hiến Quảng Ngãi chính là biểu hiện tập trung, sự tích tụ những giá trị của chân thiện mỹ từ ngàn xưa của Tổ quốc Việt Nam. Nó mạnh mẽ và không thể bị diệt vong mặc dù trải qua những sóng gió thử thách của lịch sử, chính là vì nó tượng trưng cho chân thiện mỹ, những giá trị truyền thống bền vững. Chính nền văn hiến ấy đã nuôi dưỡng và phát triển không ngừng xuống phía Nam của đất nước tạo thành sự thống nhất của cả dân tộc Việt Nam, một chân lý bất diệt mà Hồ Chí Minh đã nhắc đến như một tiếng gọi cứu nước thiên liêng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam chính là sức mạnh của văn hoá, của tình cảm dân tộc thống nhất thuỷ chung, một nét đẹp cao quý của con người hay đúng hơn là nền văn hiến trong cộng đồng người Việt Nam mà Quảng Ngãi Là một vùng tiêu biểu nhất của đất Quảng miền Trung.
Phân tích về quá trình phát triển và thống nhất tình cảm dân tộc giữa các miền đất nước, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “Rõ ràng là người miền Nam hiện nay đều gốc gác ở miền Bắc. Tất cả những gì là cốt tuỷ của tinh thần dân tộc, của văn hoá dân tộc, tất cả những gì tạo nên con ngưòi Việt Nam, tất cả những cái gì mà quá trình đấu tranh của dân tộc đã để lại trong con người Việt Nam, tất cả những cái đó điều có trong con người miền Nam và người miền Bắc. Cuộc kháng chiến của chúng ta vừa qua đã chứng minh rõ điều này”… “Tuy nhiên, trong quá trình phát triển từ Bắc vào Nam, tính chất của chúng ta có biến chuyển. Gốc trước kia của dân tộc chúng ta là ở miền Bắc. Cái gì sâu sắc nhất của dân tộc thì tụ lại ở miền Bắc và miền Bắc đã giữ gìn nó một cách đầy đủ nhất. Trong quá trình phát triển vào Nam, cái cốt tuỷ, cái tinh tuý của dân tộc tuy căn bản có giữ, nhưng về một mặt nào đó hay một phạm vi nào đó, có bớt đi ít nhiều, nhưng một mặt khác nó lại sáng tạo thêm, nhờ đó tính chất dân tộc của chúng ta thêm phong phú”. Về điều nhận định trên của đồng chí Lê Duẩn, chúng ta có thể thấy ngay trên mảnh đất Quảng Ngãi này khi nghiên cứu về cội nguồn văn hiến Quảng Ngãi từ tuyền thống đến hiện đại.
Nhìn lại những di tích văn hoá Quảng Ngãi, chúng ta có thể thấy bên cạnh những di tích, di chỉ lịch sử-văn hoá có tính chất bản địa là những di tích văn hoá hình thành trong quá trình di dân, đặc biệt là thời kỳ đấu tranh cách mạng như những phong tục, tập quán, nếp sống, lễ hội, tính ngưỡng, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống và nhiều tri thức văn hoá dân giang khác… đều có nguồn gốc từ các dân tộc Việt, đa số là người gốc Thanh, Nghệ, Tĩnh di cư vào các giai đoạn khác nhau từ thế kỷ 14, 15 mang theo nền văn minh của các dân tộc phía Bắc. Do đó cũng có thể nói, văn hiến Quảng Ngãi đã lưu giữ đồng thời phát triển nền văn hoá dân tộc Việt từ Bắc vào Nam, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của nền văn hoá chung của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Văn hiến Quảng Ngãi không chỉ bổ sung cho nền văn hoá chung của cả dân tộc mà còn giữ vị trí trung chuyển và vai trò trung tâm của văn hoá miền Trung để trên cơ sở đó tiến về phía Nam tạo thành nền văn minh thống nhất của cả dân tộc.
Hơn thế nữa, nền văn hiến Quảng Ngãi không chỉ để lại những di tích văn hoá, những phong tục, tập quán, lễ hội mà quan trọng là ở con người, trong đó có những nhân vật tiêu biểu mà cả xưa và nay Trần Quang Diệu, Trương Định, Phạm Văn Đồng… Nói về di tích văn hoá, chúng ta có thể thấy trên tất cả các lĩnh vực văn hoá từ kiến trúc đến âm nhạc, lễ hội, từ văn hoá dân gian đến văn hoá thành văn, từ văn hoá ẩm thực đến văn hoá làng mạc…chúng ta đều thấy còn nhiều dấu ấn của văn hoá Việt từ miền Bắc di chuyển vào Quảng Ngãi, đặc biệt từ các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh như làng Năng An và công cuộc khẩn hoan lập ấp của Lê Quang Đại hoặc di tích họ Hạ ở làng An Phú mà trên tạp chí Cẩm Thành gần đây có nhắc đến…đếu có gốc từ quê hương Thanh Hoá.
Như vậy, chúng ta có thể nói, điều quan trọng tạo nên sự thống nhất về văn hoá, trước hết phải có cội nguồn của một nền văn minh ra đời từ thời các vua Hùng dựng nước ở phía Bắc, mà tiêu điểm là văn minh lúa nước kèm theo nó là những di tích, phong tục, tập quán, lễ hội và nguồn vô tận về nguồn văn hoá dân gian được hình thành và phát triển trong lòng các dân tộc. Chính nền văn minh ấy tạo nên sự thống nhất về ý thức, tình cảm dân tộc, đồng thời nuôi dưỡng, bảo vệ ý thức dân tộc ấy ngày một phát triển thành những đặc trưng văn hoá có thế mạnh ở các miền mà tiêu biểu nhất có lẽ là văn hoá làng như chúng ta đã biết. Điều này cũng phù hợp với nhận định về các nền văn minh trên thế giới của Fernand Braudel - một nhà nghiên cứu lịch sử người pháp khi ông tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới, như sau: “Nền văn minh Trung Quốc đã xuất hiện ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (Bắc bộ và Trung bộ Việt Nam) trong khung của một chủ nghĩa thực dân mà sau đó nó không tồn tại nữa. Cuộc lấn tới cả về quân sự lẫn về hành chính, tôn giáo (Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo) được tiến hành ở rìa phía Nam của vùng chiếm đóng rộng lớn ở miền Nam Trung Hoa, vốn là một sự kiện lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Các dân tộc bản xứ hoặc bị dồn đi nơi khác hoặc bị chinh phục. Như vậy đã được hình thành một nền văn minh đầy sức sống của các dân tộc An Nam sau đó nền văn minh này tràn xuống phía Nam Đông Dương theo đà của nó”.
Ngày nay Việt Nam đã được xem là một trong những cái nôi của nền văn minh tiêu biểu trên thế giới. Chính nền văn minh ấy đã lan toả từ phía Bắc xuống phía Nam giữ vai trò quyết định sự thống nhất của nên văn hóa dân tộc Việt Nam nhưng là thống nhất trong đa dạng và phát triển trong quá trình giao lưu giữa các nền văn hoá dân tộc. Nền văn minh ấy sẽ không phát triển nếu không có vị trí của văn hiến các vùng đất Quảng trong đó có Quảng Ngãi.
Từ lời sấm có tính dự báo đặc biệt thông minh của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm rằng “Hoàng Sơn nhất đái vạn đại dung thân”, cha ông ta đã biết phát huy trí tuệ Việt Nam, dựa vào mảnh đất này để phát triển nền văn minh của dân tộc ta từ Bắc vào Nam, tạo nên một nước Việt Nam thống nhất từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, tạo nên nền văn hoá Việt Nam có sức mạnh chiến thắng các loại kẻ thù xâm lược. Văn hiến Quảng Ngãi đã chứng minh rõ chân lý đó với những di tích lịch sử truyền thống đến hiện đại, với những con người anh hùng và nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng mà Phạm Văn Đồng là một trong những số đó.
Có thể xem Quảng Ngãi như một vùng văn hoá đa dạng được nuôi dưỡng từ truyền thống văn hoá dân tộc nối tiếp nhau, tạo nên một sự hội tụ, kết tinh và thăng hoa về trí tuệ và tâm hồn của nhiều thế hệ con người Việt Nam để từ đó chuyển tiếp dần xuống phía cực Nam của tổ quốc.
Và cần phải nói đến văn hiến chứ không chỉ là văn hoá Quảng Ngãi, bởi lẽ, nói đến khái niệm văn hiến có nội dung bao quát cả văn hoá, văn minh, di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, trong đó di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, kho tàng tri thức phong phú về tri thức văn hoá dân gian… thể hiện một cách tổng thể cả địa lý học lịch sử, cả văn minh vật chất và văn minh tinh thần, đặc biệt là thể hiện ở con người Việt Nam “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, nhưng hào kiệt không bao giờ thiếu” như Nguyễn Trãi đã khẳng định.
Nói tới văn hiến Việt Nam, Nguyễn Trãi đã khái quát những truyền thống tốt đẹp tạo nên sức mạnh tinh thần bất diệt của dân tộc ta. Văn hiến Quảng Ngãi chính là sự kết tinh, sự thu nhỏ của văn hiến dân tộc Việt Nam và là sự biểu hiện đầy tập trung của nền văn hiến ấy trên mảnh đất miền Trung tuy hình thành muộn nhưng vẫn kết nối được toàn bộ nền văn minh của cả dân tộc bắt đầu từ thời các vua Hùng dựng nước. Nếu nói cái truyền thống là những gì còn lại sau khi tất cả đã qua thì văn hiến Quảng Ngãi chính là cái còn lại phản ánh tuyền thống văn hoá dân tộc của nước Việt Nam thống nhất; nếu nói cái còn lại phản ánh truyền thống bao giờ cũng là hiện thân của chân thiện mỹ thì văn hiến Quảng Ngãi chính là biểu hiện tập trung, sự tích tụ những giá trị của chân thiện mỹ từ ngàn xưa của Tổ quốc Việt Nam. Nó mạnh mẽ và không thể bị diệt vong mặc dù trải qua những sóng gió thử thách của lịch sử, chính là vì nó tượng trưng cho chân thiện mỹ, những giá trị truyền thống bền vững. Chính nền văn hiến ấy đã nuôi dưỡng và phát triển không ngừng xuống phía Nam của đất nước tạo thành sự thống nhất của cả dân tộc Việt Nam, một chân lý bất diệt mà Hồ Chí Minh đã nhắc đến như một tiếng gọi cứu nước thiên liêng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam chính là sức mạnh của văn hoá, của tình cảm dân tộc thống nhất thuỷ chung, một nét đẹp cao quý của con người hay đúng hơn là nền văn hiến trong cộng đồng người Việt Nam mà Quảng Ngãi Là một vùng tiêu biểu nhất của đất Quảng miền Trung.
Phân tích về quá trình phát triển và thống nhất tình cảm dân tộc giữa các miền đất nước, đồng chí Lê Duẩn cho rằng: “Rõ ràng là người miền Nam hiện nay đều gốc gác ở miền Bắc. Tất cả những gì là cốt tuỷ của tinh thần dân tộc, của văn hoá dân tộc, tất cả những gì tạo nên con ngưòi Việt Nam, tất cả những cái gì mà quá trình đấu tranh của dân tộc đã để lại trong con người Việt Nam, tất cả những cái đó điều có trong con người miền Nam và người miền Bắc. Cuộc kháng chiến của chúng ta vừa qua đã chứng minh rõ điều này”… “Tuy nhiên, trong quá trình phát triển từ Bắc vào Nam, tính chất của chúng ta có biến chuyển. Gốc trước kia của dân tộc chúng ta là ở miền Bắc. Cái gì sâu sắc nhất của dân tộc thì tụ lại ở miền Bắc và miền Bắc đã giữ gìn nó một cách đầy đủ nhất. Trong quá trình phát triển vào Nam, cái cốt tuỷ, cái tinh tuý của dân tộc tuy căn bản có giữ, nhưng về một mặt nào đó hay một phạm vi nào đó, có bớt đi ít nhiều, nhưng một mặt khác nó lại sáng tạo thêm, nhờ đó tính chất dân tộc của chúng ta thêm phong phú”. Về điều nhận định trên của đồng chí Lê Duẩn, chúng ta có thể thấy ngay trên mảnh đất Quảng Ngãi này khi nghiên cứu về cội nguồn văn hiến Quảng Ngãi từ tuyền thống đến hiện đại.
Nhìn lại những di tích văn hoá Quảng Ngãi, chúng ta có thể thấy bên cạnh những di tích, di chỉ lịch sử-văn hoá có tính chất bản địa là những di tích văn hoá hình thành trong quá trình di dân, đặc biệt là thời kỳ đấu tranh cách mạng như những phong tục, tập quán, nếp sống, lễ hội, tính ngưỡng, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống và nhiều tri thức văn hoá dân giang khác… đều có nguồn gốc từ các dân tộc Việt, đa số là người gốc Thanh, Nghệ, Tĩnh di cư vào các giai đoạn khác nhau từ thế kỷ 14, 15 mang theo nền văn minh của các dân tộc phía Bắc. Do đó cũng có thể nói, văn hiến Quảng Ngãi đã lưu giữ đồng thời phát triển nền văn hoá dân tộc Việt từ Bắc vào Nam, tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của nền văn hoá chung của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Văn hiến Quảng Ngãi không chỉ bổ sung cho nền văn hoá chung của cả dân tộc mà còn giữ vị trí trung chuyển và vai trò trung tâm của văn hoá miền Trung để trên cơ sở đó tiến về phía Nam tạo thành nền văn minh thống nhất của cả dân tộc.
Hơn thế nữa, nền văn hiến Quảng Ngãi không chỉ để lại những di tích văn hoá, những phong tục, tập quán, lễ hội mà quan trọng là ở con người, trong đó có những nhân vật tiêu biểu mà cả xưa và nay Trần Quang Diệu, Trương Định, Phạm Văn Đồng… Nói về di tích văn hoá, chúng ta có thể thấy trên tất cả các lĩnh vực văn hoá từ kiến trúc đến âm nhạc, lễ hội, từ văn hoá dân gian đến văn hoá thành văn, từ văn hoá ẩm thực đến văn hoá làng mạc…chúng ta đều thấy còn nhiều dấu ấn của văn hoá Việt từ miền Bắc di chuyển vào Quảng Ngãi, đặc biệt từ các tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh như làng Năng An và công cuộc khẩn hoan lập ấp của Lê Quang Đại hoặc di tích họ Hạ ở làng An Phú mà trên tạp chí Cẩm Thành gần đây có nhắc đến…đếu có gốc từ quê hương Thanh Hoá.
Như vậy, chúng ta có thể nói, điều quan trọng tạo nên sự thống nhất về văn hoá, trước hết phải có cội nguồn của một nền văn minh ra đời từ thời các vua Hùng dựng nước ở phía Bắc, mà tiêu điểm là văn minh lúa nước kèm theo nó là những di tích, phong tục, tập quán, lễ hội và nguồn vô tận về nguồn văn hoá dân gian được hình thành và phát triển trong lòng các dân tộc. Chính nền văn minh ấy tạo nên sự thống nhất về ý thức, tình cảm dân tộc, đồng thời nuôi dưỡng, bảo vệ ý thức dân tộc ấy ngày một phát triển thành những đặc trưng văn hoá có thế mạnh ở các miền mà tiêu biểu nhất có lẽ là văn hoá làng như chúng ta đã biết. Điều này cũng phù hợp với nhận định về các nền văn minh trên thế giới của Fernand Braudel - một nhà nghiên cứu lịch sử người pháp khi ông tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới, như sau: “Nền văn minh Trung Quốc đã xuất hiện ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ (Bắc bộ và Trung bộ Việt Nam) trong khung của một chủ nghĩa thực dân mà sau đó nó không tồn tại nữa. Cuộc lấn tới cả về quân sự lẫn về hành chính, tôn giáo (Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo) được tiến hành ở rìa phía Nam của vùng chiếm đóng rộng lớn ở miền Nam Trung Hoa, vốn là một sự kiện lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Các dân tộc bản xứ hoặc bị dồn đi nơi khác hoặc bị chinh phục. Như vậy đã được hình thành một nền văn minh đầy sức sống của các dân tộc An Nam sau đó nền văn minh này tràn xuống phía Nam Đông Dương theo đà của nó”.
Ngày nay Việt Nam đã được xem là một trong những cái nôi của nền văn minh tiêu biểu trên thế giới. Chính nền văn minh ấy đã lan toả từ phía Bắc xuống phía Nam giữ vai trò quyết định sự thống nhất của nên văn hóa dân tộc Việt Nam nhưng là thống nhất trong đa dạng và phát triển trong quá trình giao lưu giữa các nền văn hoá dân tộc. Nền văn minh ấy sẽ không phát triển nếu không có vị trí của văn hiến các vùng đất Quảng trong đó có Quảng Ngãi.
Từ lời sấm có tính dự báo đặc biệt thông minh của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm rằng “Hoàng Sơn nhất đái vạn đại dung thân”, cha ông ta đã biết phát huy trí tuệ Việt Nam, dựa vào mảnh đất này để phát triển nền văn minh của dân tộc ta từ Bắc vào Nam, tạo nên một nước Việt Nam thống nhất từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, tạo nên nền văn hoá Việt Nam có sức mạnh chiến thắng các loại kẻ thù xâm lược. Văn hiến Quảng Ngãi đã chứng minh rõ chân lý đó với những di tích lịch sử truyền thống đến hiện đại, với những con người anh hùng và nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng mà Phạm Văn Đồng là một trong những số đó.