PDA

View Full Version : Văn hóa Sa Huỳnh


Hoang_philong
22-12-08, 09:51 PM
Văn hóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa được xác định ở vào khoảng năm 1000 TCN đến cuối thế kỷ thứ 2. Nền văn hóa Sa Huỳnh là một trong ba cái nôi cổ xưa về văn minh trên lãnh thổ Việt Nam, cùng với: Văn hóa Đông Sơn, Văn hóa Óc Eo (Đồng Nai), tạo thành tam giác văn hóa của Việt Nam.

Lịch sử khám phá
Văn hóa Sa Huỳnh đư­ợc nhà khảo cổ ng­ười Pháp M. Vinet phát hiện lần đầu tiên vào năm 1909 khi ông tìm thấy bên đầm An Khê, một đầm nước ngọt ở Sa Huỳnh Đức Phổ Quảng Ngãi một số lượng lớn quan tài bằng chum (khoảng 200 chiếc). Người ta gọi Di tích khảo cổ đó là Kho Chum Sa Huỳnh (Dépot à Jarres Sa Huỳnh). Các cuộc khai quật vào nhiều năm khác nhau tại di tích gò Ma Vương hay còn gọi là Long Thạnh Đức Phổ nơi được xem là có niên đại sớm nhất của nền văn hóa Sa Hùynh, đã đem lại những đánh giá xác đáng và quan trọng về nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển văn hóa Sa Huỳnh. Nền văn hóa Sa Huỳnh đã đư­ợc các nhà khảo cổ trên thế giới nghiên cứu từ đó đến nay và ngày càng sáng tỏ nhiều điều về đời sống của các tộc ngư­ời thời tiền sơ sử ở miền Trung Việt Nam. Xuất hiện cách nay khoảng 3.000 năm và kết thúc vào thế kỷ thứ 1, văn hóa Sa Huỳnh có lẽ đã tồn tại hơn 5.000 năm kéo dài từ thời hậu kỳ đồ đá mới đến đầu thời đại đồ sắt trên địa bàn các tỉnh từ Quảng Bình đến các tỉnh nam Trung bộ và Tây Nguyên. Với một sức sáng tạo mạnh mẽ và phong phú, văn hóa Sa Huỳnh càng ngày càng thấy có sự ảnh hưởng và giao lưu với nhiều vùng Đông Nam Á và Trung Hoa cổ xưa và Ấn Độ cổ xưa khi gần đây, Viện Khảo cổ học Quốc gia Đức hợp tác với các nhà khảo cổ học khoa Lịch sử của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, tiến hành khảo cứu trong các năm 2004-2005 tại một số vùng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Bước đầu đã xác định được diện mạo một nền văn hóa đặc sắc ở miền Trung, Việt Nam.


Thành tựu

Trồng trọt
Dân cư cổ thuộc văn hóa Sa Huỳnh đã định cư chủ yếu dọc hai bên vùng đất thấp thuộc các con sông dọc bờ biển miền Trung Việt Nam, trải dài từ Quảng Bình cho đến Phú Yên. Họ thuộc một nguồn gốc văn minh lúa nước Đông Nam Á. Những dụng cụ bằng sắt như cuốc, dao, kiếm, lao, đục, xà beng... đã được tìm thấy ở đây. Đồ gốm lớn với hoa văn đẹp, cùng với kỹ thuật dùng bàn xoay đã làm lạc hướng các nhà khảo cổ về nguồn gốc của Vương quốc Chăm Pa[1], những đò gốm dùng để đựng các vật dụng và sản phẩm nông nghiệp, đánh cá và cả mai táng người chết.

Đánh cá và đi biển
Loạt bài
Lịch sử Chăm Pa
Văn hóa Sa Huỳnh (1000 TCN - 200)
Hồ Tôn Tinh (trước thế kỷ 1 TCN)
Tượng Lâm (thế kỷ 1 TCN - 192)
Lâm Ấp (192 - 605)
Hoàn Vương (757 - 859).
Chiêm Thành (877 - 1693)
Thuận Thành (1694 - 1832)

Trước năm 1975, các nhà khảo cổ trên thế giới mới chỉ biết đến văn hóa Sa Huỳnh qua hoạt động của cư­ dân đi biển. Họ chỉ lên đất liền đặt mai táng ng­ười chết trong những mộ chum. Những mộ chum đư­ợc tìm thấy ở Palavan (Philippines), Bondontaphet (Thái Lan), Sa Huỳnh (Việt Nam). Sau năm 1975 các nhà khảo cổ Việt Nam đã bỏ nhiều công sức tim hiểu, nghiên cứu nền văn hóa này và bư­ớc đầu đã có những đóng góp quan trọng giúp chúng ta có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về nền văn hóa Sa Huỳnh. Đặc biệt trong những năm gần đây, tại Hội An, các nhà nghiên cứu khảo cổ đã phát hiện nhiều di chỉ cư­ trú của ngư­ời Sa Huỳnh với nhiều hiện vật phong phú và đa dạng. Các phát hiện cho thấy ngư­ời Sa Huỳnh cổ là những cư­ dân nông nghiệp, và đi biển chỉ là một trong những sinh hoạt của họ. Các đồng tiền Ngũ Thủ và Vư­ơng Mãng (đầu thế kỷ thứ 1 TCN), các gư­ơng đồng của nhà Tây Hán, đỉnh đồng nhà Đông Hán có trong các mộ chum chứng tỏ họ đã có một nền sản xuất hàng hóa cùng với sự giao thư­ơng khá phát triển.

Đồ trang sức và kỹ thuật làm thủy tinh
Các nhà khảo cổ đã tìm thấy, ở những khu mộ táng của văn hóa Sa Huỳnh, các bộ hạt chuỗi giá trị ở Lai Nghi. Trong khi rây bằng sàng phát hiện được hơn 8.600 hạt cườm bằng thủy tinh màu xanh, vàng hoặc nâu có đường kính 1-3 mm. Ngoài bộ hạt chuỗi gồm khoảng 1.500 hạt bằng đá mã não, achat, crystal, amethyst, nephrite và bằng vàng - còn có 4 khuyên tai bằng vàng. Người văn hóa Sa Huỳnh ở Lai Nghi nhiều nhất thích sự dụng loại đá ngọc mã não làm đồ trang sức. Hơn 15 hình dạng hạt chuỗi khác nhau đươc chế tác - có lẽ bằng đá mã não đến từ khu vực Myanma hoặc Ấn Độ. Trong tổng số 1.136 hạt chuỗi bằng đá mã não tìm thấy ở Lai Nghi có 3 chiếc rất đặc biệt: chiếc thứ nhất có hình con chim nước, chiếc thứ hai có hình con hổ hoặc sư tử và chiếc thứ ba là hạt chuỗi khắc axít (etched bead). Cả 3 hạt chuỗi này được phát hiện trong 3 mộ chum khác nhau cùng với nhiều đồ tùy táng quý khác có niên đại vào thế kỷ 1-2 TCN. Những di vật hiếm thấy khác ở miền Trung Việt Nam được kể đến là hai cái gương bằng đồng của thời kỳ Tây Hán.

Thủy tinh nhân tạo là một thành tựu rực rỡ của văn hóa Sa Huỳnh. Đây là một trong những nơi làm ra thủy tinh nhân tạo sớm trên thế giới. Chúng không những đa dạng về kiểu dáng mà còn phong phú về màu sắc như­ xanh lơ, xanh đen, xanh lá mạ, xám, tím, đỏ và nâu. Sử Trung Hoa đã từng ghi chép về một chén thủy tinh xuất phát từ vùng đất này mà họ gọi là chén lư­u ly với một sự trân trọng và khâm phục.

Nổi bật trong những vật trang sức của ng­ười Sa Huỳnh là khuyên tai ba mấu dành cho phụ nữ và khuyên tai hai đầu thú của nam giới. Nếu khuyên tai ba mấu dịu dàng, tinh tế và khá duyên dáng thì khuyên tai hai đầu thú lại thể hiện chất dũng mãnh, kiêu hãnh và cư­ờng tráng của nam giới. Những vật trang sức chế tác từ đá, mã não và thủy tinh có thể nói là những tinh hoa đặc sắc nhất mà nền văn minh này sáng tạo ra và đư­ợc phổ biến khắp vùng Đông Nam Á. Ng­ười ta đã tìm thấy khuyên tai ba mấu và khuyên tai hai đầu thú ở Thái Lan, Malaysia, Philippines và Đài Loan.


Đồ gốm
Ngư­ời Sa Huỳnh cổ rất khéo tay và có mỹ cảm tuyệt vời. Các đồ gốm gia dụng đều đ­ợc tạo dáng thanh nhã, cân đối, hoa văn phong phú, sinh động thể hiện một tâm hồn tinh tế và giàu xúc cảm.

Trong gốm Sa Huỳnh, các đồ đựng như bát, bình có chân đế, có thân gãy ở vai hay đáy, chiếm tỷ lệ lớn. Mẫu gốm thường gặp là vàng đỏ, nhiều khi có vệt đen bóng, có hoa văn chữ S có đệm tam giác, những đường chấm hay đường in dấu răng vỏ sò. Trong các di chỉ mộ táng, phổ biến là mộ chum, trong chum chứa nhiều đồ trang sức bằng đồng, đá quý, thủy tinh, đặc biệt là loại khuyên tai ba mấu nhọn và khuyên tai hai đầu thú. Các đặc trưng đó của văn hóa Sa Huỳnh cũng đã tìm được ở các di chỉ trong lưu vực sông Đồng Nai. Có nơi còn có những đặc trưng xưa hơn, mà khảo cổ học gọi là văn hóa thời tiền Sa Huỳnh.


Xã hội Sa Huỳnh
Điều đó đã xác nhận cách đây gần 3 ngàn năm, trên lưu vực sông Đồng Nai mà lãnh thổ Lâm Đồng là thượng nguồn, đã có những bộ lạc sinh sống với một nền văn hóa đồng - sắt đã phát triển và có đặc trưng riêng. Có thể nói, các bộ lạc này là tiền thân của các dân tộc bản địa. Sách lịch sử Việt Nam (Phan Huy Lê chủ biên) cho biết, bấy giờ trên địa bàn của văn hóa Sa Huỳnh có hai bộ lạc sinh sống. Bộ lạc Cau (chữ Phạn là Kramuka vam'sa) cư trú vùng Phú Yên, Khánh Hòa- Ninh Thuận - Bình Thuận trở vào, và bộ lạc Dừa (chữ Phạn là Narikela vam'sa) ở vùng Bình Định, Quảng Nam ngày nay. Bộ lạc Dừa từ thế kỷ đầu trước công nguyên bị nhà Hán đô hộ (cùng thời kỳ với nước Âu Lạc) và đặt tên là huyện Tượng Lâm. Năm 190- 193, nhân dân Tượng Lâm nổi dậy đánh đuổi người Hán, lập nên nước Lâm Ấp (theo tên gọi của thư tịch cổ Trung Hoa). Bộ lạc Cau, khoảng đầu công nguyên, đã hình thành một tiểu vương quốc riêng có tên là Panduranga (tên Phạn) hay Pan-Rãn (tiếng Chăm cổ), về sau gọi là Chăm Pa, có địa bàn từ Nha Trang - Phan Rang, Phan Thiết ngày nay. Từ sự ra đời nói trên của dân tộc Chăm và nhà nước của họ, cho thấy ở nam Trung bộ, Việt Nam thời ấy, đã có hai cộng đồng lớn: cộng đồng người Chăm với ngôn ngữ thuộ nhóm ngôn ngữ Malay-Polynesia cư trú vùng ven biển và cộng đồng với ngữ hệ Môn - Khơme (Mạ, Cơ Ho, M'Nông), cư trú vùng núi và Tây Nguyên.


Tập tục tín ngưỡng
Tập tục độc đáo của cư dân Sa Huỳnh chính là tập tục chôn người quá cố trong các chum lớn, có những chiếu chum cao đến 1,2 m. Chum được làm từ vật liêu đất đên hay đất có màu đỏ và được nung khá tốt. Người chết được táng trong chum với tư thế ngồi bó gối - như một hiện tượng được sống tiếp với thế giới cõi âm. Đồ tùy táng theo người chết tùy thuộc vào sự giàu có hay nghèo khó của người chết mà có nhiều hay ít hiện vật được chôn theo.

Người Sa Huỳnh cổ rất "sành điệu" và khá duyên dáng trong các đồ trang sức làm bằng đá quý và đá bán quý cung như pha lê nhiều màu sắc.

Người Sa Huỳnh cổ theo tính ngưỡng thờ mẫu (mẹ, bà) và còn tồn tại cho đến ngày nay ở các dân tộc Chăm, các cư dân bản địa Tây Nguyên.


Nhận xét
Tiến sĩ Mỹ Dung[2] nhận xét như sau về những đồ trang sức độc đáo này : Theo như biểu tượng của thế giới, con chim nước tượng trưng cho mặt trời. Chẳng hạn hiện vật hình con chim ở khu vực mộ chum hậu kỳ thời đại đồ đồng vùng sông Danube ở châu Âu. Hạt chuỗi mã não duy nhất ở Đông Nam Á tìm thấy ở Thái Lan có hình con sư tử. Từ trước đến nay, trong các mộ táng khai quật được, chúng tôi chỉ phát hiện những hạt mã não hình chuỗi bình thường. Mã não mang hình dạng con vật thì chưa bao giờ tìm thấy

Từ xưa đến nay người ta vẫn cho rằng nghề thuỷ tinh rất phát triển trong thời kỳ văn hóa Sa Huỳnh. Nhưng phát triển ở mức độ cao như vậy thì thật đáng kinh ngạc.


Tham khảo
Neue Entdeckungen zur Sa Huynh- Kultur, Lindensoft, ISBN 3-929290-27-8, 2002.

Chú thích
^ Người Chăm Pa hiện nay không có truyền thống làm gốm bằng bàn xoay
^ Nhà khảo cổ cùng làm việc trong nhóm khảo cổ Việt - Đức

Hoang_philong
22-12-08, 09:58 PM
Quyển sách " Những phát hiện mới về văn hóa Sa Huỳnh-Gò Mã Vôi"

http://i517.photobucket.com/albums/u340/quangngai_group/YEUQUANGNGAI/Goma_Titel_m.jpg

Hoang_philong
21-06-09, 03:31 AM
Bắt đầu từ phát hiện của M. Vinet năm 1909 về khu di tích mộ chum bên bờ đầm An Khê ở Sa Huỳnh, những bí ẩn trong lòng đất Quảng Ngãi dần dần xuất lộ. Một thế kỷ nhìn lại, phải thừa nhận công lao của các nhà khảo cổ người Pháp trong việc xác lập khái niệm Văn hóa Sa Huỳnh (còn gọi là Sa Huỳnh cổ điển) do M. Colani đưa ra trong hội nghị Tiền sử học Thái Bình Dương tổ chức ở Manila Philippines) vào cuối năm 1937, nhằm để chỉ dạng mộ chum cùng hiện vật khác ở thời đại sắt được phát hiện, khai quật ở Quảng Ngãi, Quảng Bình và vùng đông Nam bộ. Tên của nền văn hóa kiểu táng thức mộ chum được lấy từ tên Sa Huỳnh – một làng nhỏ cực nam Quảng Ngãi – nơi phát hiện đầu tiên.

http://i517.photobucket.com/albums/u340/quangngai_group/YEUQUANGNGAI/LinhTinh/monoilyson.jpg

Tuy nhiên người Pháp cũng chỉ dừng lại ở đó. Những tri thức Văn bia Sa Huỳnh được tích lũy khá chậm chạp. Hầu như trong thời kỳ này các di tích tiền sử Quảng Ngãi đóng vai trò cốt lõi trong nghiên cứu của các học giả người Pháp. Qua thống kê trong niên giám của trường Viễn Đông Bác Cổ (B.E.F.E.O) cũng có thể thấy rằng các nhà khảo cổ học người Pháp khai quật rất nhiều mộ chum Sa Huỳnh: M. Vinet phát hiện 200 chum, bà La Barre đào khoảng 300 chum, bà M. Colani đào khoảng 187 chum. Như thế cũng có thể nhận thấy rằng khu mộ chum ở Sa Huỳnh có số lượng lớn chum táng, trong có chứa nhiều đồ tùy táng như: đồ đựng bằng gốm, công cụ sản xuất bằng đá và bằng sắt, đồ trang sức bằng thủy tinh, bằng đá ngọc néfrit, mã não, agat, jeđeit. Niên đại của Văn hóa Sa Huỳnh mà các nhà khảo cổ người Pháp khai quật nhìn chung ở vào giai đoạn sắt sớm (khoảng một, hai thế kỷ trước công nguyên), được gọi chung là Sa Huỳnh cổ điển.

Từ năm 1975 đến nay, tốc độ nghiên cứu và tích lũy tri thức về Văn hóa Sa Huỳnh được thúc đẩy nhanh bằng những phát hiện khai quật và nghiên cứu hàng loạt các di tích Văn hóa Sa Huỳnh khắp các tỉnh miền Trung Việt Nam.

Khởi đầu là cuộc thám sát, khai quật của các nhà khảo cổ Việt Nam tại Long Thạnh (Sa Huỳnh) và Bình Châu vào năm 1977- 1978 thu được số lượng lớn mộ chum cùng hàng loạt các di vật tùy táng bằng gốm, đá và đồ thủy tinh. Hầu hết những sưu tập có giá trị đẹp về kiểu dáng, phong phú và đa dạng về loại hình. Mẩu than tìm thấy trong tầng cư trú di tích Long Thạnh qua phương pháp phóng xạ C14 đã cho niên đại 3.370 +40 năm cách nay. Đây là niên đại sớm của di tích tiền Sa Huỳnh, có một ý nghĩa rất quan trọng trong việc khẳng định tính bản địa của Văn hóa Sa Huỳnh. Có nghĩa là Văn hóa Sa Huỳnh được thành tạo ngay trên dải đất miền Trung Việt Nam từ các nguồn hợp văn hóa thời đại đá mới như: Văn hóa Bàu Tró với kiểu dạng bốn “răng trâu” cùng phong cách tô chì sống và văn hóa mộ chum Tây Nguyên, văn hóa Biển Hồ với các điểm như Trà Dôm, Biển Hồ, Lung Leng.

Từ năm 1996, văn hóa Sa Huỳnh lần đầu tiên được phát hiện trên đảo Lý Sơn, mở đầu bằng cuộc khai quật ở Xóm Ốc, Suối Chình (đảo Lý Sơn), thu được hàng loạt các di vật gốm, công cụ đá vỏ ốc trang sức bằng thủy tinh, vỏ nhuyễn thể. Sự phát hiện khai quật các di tích Văn hóa Sa Huỳnh trên đảo Lý Sơn đã mở ra hướng nghiên cứu tính chất biển và hải đảo của Văn hóa Sa Huỳnh.

Hầu như các nhà nghiên cứu khảo cổ học đều thống nhất rằng các di tích tiền Sa Huỳnh ở khu vực miền Trung Việt Nam đã tiếp thu kỹ thuật chế tác rìu, và phong cách tô chì sống, con lăn… của dòng chảy văn hóa đá mới như Bầu Tró, Hoa Lộc. Giáo sư Hà Văn Tấn cho rằng Văn hóa Bầu Tró là nguồn động lực phát triển của các di tích tiền Sa Huỳnh. Bên cạnh đó, dòng chảy văn hóa mộ chum Tây Nguyên tràn xuống vùng đồng bằng duyên hải, các nhà nghiên cứu cho rằng các di tích tiền Sa Huỳnh đã có sự tiếp thu và có sự dội ngược lại (Nguyễn Khắc Sử, 1995).

Qua cuộc hội thảo khoa học kỷ niệm 90 năm Văn hóa Sa Huỳnh (1909- 1999) các nhà nghiên cứu khảo cổ học Việt Nam đều cho rằng trung tâm chính của văn hóa tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh là khu vực 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Nam với hệ thống các di tích Long Thạnh, Bình Châu, Bầu Trám, Xóm Ốc, Bãi Ông (sơ kỳ đồng thau) đến các di tích Phú Khương, Suối Chình, Tiên Phước, Tam Mỹ, Hậu Xá… (sơ kỳ sắt).

Trong sự tồn tại và phát triển Văn hóa Sa Huỳnh đã có sự giao lưu với các văn hóa đồng đại khác nhau trong khu vực chẳng hạn đồ đồng thau của văn hóa Đông Sơn được tìm thấy trong các di tích Văn hóa Sa Huỳnh như các vũ khí bằng đồng của Văn Hóa Đông Sơn tìm thấy ở Gò Mả Vôi hoặc Bình Châu tìm thấy rìu đồng Đông Sơn, hay ở vùng sông Trà Khúc tìm thấy trống đồng Héger I, ở Bầu Lát cạnh địa điểm Núi Sứa (di tích Văn hóa Sa Huỳnh)…. Đồng thời các nhà khảo cổ học tìm thấy khuyên tai hai đầu thú Văn hóa Sa Huỳnh ở Bản Chiếng, mộ chum ở Non-nok Tha (Thái Lan), đồ gốm Sa Huỳnh ở Kalanay (Philippines).

Như vậy, diện mạo của văn hóa tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi nói riêng và trong khu vực miền Trung nói chung, đã được các nhà khảo cổ học Việt Nam nghiên cứu và phát dựng tương đối hoàn chỉnh với các phổ hệ văn hóa, những giai đoạn, những con đường phát triển để thành tạo nên các trung tâm văn minh Sa Huỳnh sắt.



Về phương diện địa-lịch sử (Géo-history) thì khảo cổ học Quảng Ngãi trong hai thập niên nghiên cứu đã xây dựng được phác đồ không gian của các di tích khảo cổ học trong thời đại kim khí Quảng Ngãi diễn tiến từ núi à đồng bằng duyên hải à hải đảo như sau:

Vùng Trung du miền núi: các điểm di tích: Gò Nà, Gò Quánh, Trà Xuân.


Vùng Đồng bằng Duyên Hải: Long Thạnh, Phú Khương, Bình Châu.

Vùng hải đảo Xóm ốc, Suối Chinh (đảo Lý Sơn)

Các di tích khảo cổ ở vùng trung du miền núi có dấu hiệu sớm hơn, có thể ở cuối hầu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí, chẳng hạn như Gò Nà tìm thấy rìu có vai cùng các loại cuốc đá có bản lưỡi to, rộng. Hầu hết các điểm di tích này đều có dấu hiệu mộ chum với vỏ chum mỏng, in văn thừng thô và một số mảnh gốm có văn in răng sò.

Các di tích tiền Sa Huỳnh – Sa Huỳnh vùng đồng bằng duyên hải phát triển kéo đài từ sơ kỳ đồng thau (Long Thạnh) đến sơ kỳ sắt sớm (Phú Khương) đã có sự tụ cư đông đảo lâu dài biểu hiện qua tầng cư trú dày, khu mộ táng số lượng chum rất nhiều. Về cơ bản điểm khai quật Long Thạnh đã tìm thấy bộ su tập có giá trị như bộ sưu tập kiểu bình lọ hoa gốm, sưa tập về đồ trang sức gắn đá ngọc néphrit, sưu tập về công cụ cuốc đá “lưỡi mèo”, bốn “răng trâu”. Điểm khai quật Bình Châu cho thấy cư dân Sa Huỳnh có một kỹ nghệ đúc đồng phát triển thông qua các hiện vật như nồi nấu đồng, khuôn đúc đồng, xi đồng. Đồ gốm Bình Châu rất đặc trưng với phong cách tô đỏ và tô chì trên các loại bát bồng có chân đế, nồi gốm có chân và không có chân.

Điểm khai quật Xóm ốc có bộ sưu tập công cụ và đồ dùng trang sức bằng vỏ nhuyễn thể rất phong phú phản ánh tính chất biển và hải đảo của Văn hóa Sa Huỳnh. Tại địa điểm Xóm Ốc, các loại đồ đựng bằng gốm và công cụ mang đậm phong cách Bình Châu, khuyên tai thủy tinh ba mấu nhọn mang đậm tính chất Sa Huỳnh cổ điển.

Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất về Văn hóa Sa Huỳnh nói chung và các điểm di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Ngãi nói riêng.

Bạn đọc muốn hiểu rõ hơn hãy tìm đến Bảo tàng tỉnh hoặc thăm các khu di tích ngoài trời ở đồi cát ven đầm An Khê thơ mộng hay đồi cát Bình Châu lộng gió hoặc đảo Lý Sơn xinh đẹp sẽ hiểu rõ hơn cảnh quan sinh sống của người tiền sử.

Đoàn Ngọc KHôi

(Theo Quảng Ngãi, Ðất nước – Con người – Văn hóa)

Hoang_philong
02-07-09, 06:45 PM
DI CHỈ VĂN HÓA SA HUỲNH

Quảng Ngãi trong dòng lịch sử văn học cổ xưa là nơi quần tụ hai nền văn hóa mang tính kế thừa, để lại những di chỉ văn hóa vật chất vừa có tính cách đặc thù địa phương vừa mang tính cách phổ quát trong toàn khu vực.

Đó là văn hóa Sa Huỳnh văn hóa Chàm. Riêng văn hóa Sa Huỳnh được quan tâm nhiều nhất.

Năm 1909 , học giả người Pháp Vinet đã phát hiện bên đầm nước ngọt An Khê (Sa Huỳnh) một số lượng quan trọng quan tài bằng chum, khoảng 200 chiếc. Người Pháp gọi đó là Kho Chum Sa- Huỳnh (Dépot à Jarres Sa Huỳnh).

Liên tiếp nhừng năm sau đó với nhừng kết quả khai quật tại chỗ ở Quảng Bình, Bình Thuận, Đồng Nai, các nhà khảo cổ đã đi đến định hình một nền văn hóa vật chất với g cách mai táng mộ chum bằng thuật ngữ khoa học: văn hóa Sa Huỳnh.

Tên gọi này gắn liền với địa danh của nam Quảng Ngãi, nơi nền văn hóa được khai sinh.

Vào các năm 1978, I 979 các cuộc kho cứu khai quật di tích Long Thạnh (Đức Phổ) Bình Châ u (Bình Sơn) của Viện Khảo cổ Việt Nam đã đem lại nhận thức về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển văn minh văn hóa Sa Huỳnh.

Mẫu than ở Long Thạnh (Đức Phổ) qua phân tích bằng phương pháp C 14 (carbon 14) đã đem lại kết quả niên đại sớm 3370 ± 40 năm cách ngày nay. Niên đại này đã khẳng định tính chất sớm bản địa hóa của văn hóa Sa Huỳnh.

Theo luận án phó tiến sĩ khoa học của Võ Công Quý, chuyên viên khảo cổ ở Hà Nội thì văn nóa Sa Huỳnh là một nền văn hóa kim khí đã tồn tại và phát triển ở miền Nam trung bộ Việt Nam từ đầu thời đại đồng thau đến thời đại sắt sớm.

Trên trục thời gian nền văn hóa Sa Huỳnh có 3 giai đoạn phát triển sớm muộn kế tiếp nhau : Sơ kỳ thuộc giai đoạn đồng thau ; trung kỳ thuộc giai đoạn muộn đồng thau ; hậu kỳ thuộc thời đại sắt sớm.

Trên trục không gian, văn hóa Sa Huỳnh có 3 loại hình : loại hình Quảng Ngãi, loại hình Quảng Nam, loại hình Phú Khánh - Ninh Thuận - Bình Thuận.

Văn hóa Sa Huỳnh là tên gọi một vùng này thuộc xã Phổ Thạnh huyện Đức Phổ nam Quảng-Ngãi.

Từ năm 1909, các cuộc khảo cứu trước đây chủ yếu là các học giả Pháp, thuộc viện Viễn Đông Bác Cổ thực hiện.

Địa phận bố trí từ Quảng Nam, Đà nẵng đến Ninh Thuận, Bình Thuận nhưng đến nay, niên đại sớm nhất vẫn là Long Thạnh, Đức Phổ, Quủang Ngãi.

Năm 1935, Colani, học giả Pháp, đã khai quật cách gò Ma Vương cách địa điểm Phú Khương 500m về phía bắc, Các nhà khảo cổ đã tìm thấy một nền văn hóa đặc trưng Sa Huỳnh gồm các di chỉ, ở gò Ma Vương (Long Thạnh, Sa Huỳnh Bình Châu (Bình Sơn).

Qua những cuộc khai quật của ngành khảo cổ học, những hiện vật đào từ lòng đất cho ta thấy có một nền văn hóa rực rỡ của một thời tại địa phận Quảng Ngãi.