PDA

View Full Version : Lăng Cổ Luỹ Nam và Lễ hội cầu mùa


Quê Tôi
30-01-10, 11:04 AM
Cùng với núi Phú Thọ và Cổ Luỹ cô thôn đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá Quốc gia, ở xã Nghĩa Phú (Tư Nghĩa) còn có khá nhiều di tích như thành Hòn Yàng, thành Bàn Cờ, cấm Bầm Buông, miếu Bà, miếu Ông và các lễ hội, trong đó tiêu biểu là lễ hội cầu mùa ở lăng Cổ Luỹ Nam...

Theo ông Nguyễn Toà - chủ lăng Cổ Luỹ Nam cho biết thì lăng có từ rất lâu, từ thời người Hoa còn buôn bán ở vùng đất này. Chuyện kể rằng có một người đàn bà gốc Mãn Châu (Trung Quốc), buôn bán ở đây và trong một lần gặp nạn, đã được Cá Ông (Cá Voi) cứu sống. Để tưởng nhớ Cá Ông, bà cho lập lăng thờ tự. Từ đó về sau, người Việt cũng theo đó mà thờ phụng, với niềm mong ước là luôn được Cá Ông độ trì giúp đỡ những lúc họ ra khơi vào lộng mưu sinh đầy bất trắc.

Mặc dù lăng Cổ Luỹ Nam có kiến trúc khiêm tốn, khoảng chừng 30m2, nhưng cũng có đầy đủ các ban thờ như các cơ sở tín ngưỡng dân gian khác, nếu không nói là phong phú hơn, vì đã tích hợp thêm nhiều yếu tố tín ngưỡng của người Hoa. Cấu trúc lăng gồm có: Nhà tiền bái vừa dùng để tiếp khách, vừa thờ tiền vãng hậu vãng, vừa thờ những người không may bỏ mình trên sông trên biển. Chánh điện chia làm 3 gian, gian giữa thờ Cửu Thiên Huyền nữ, Cửu Huyền thất tổ - là cách thờ tự của người Hoa mới du nhập vào; bên tả ban thờ Thành hoàng bổn xứ; bên hữu ban thờ thần Nam Hải Đại tướng quân (thần Cá Voi), vị phúc thần trên biển. Hai bên chánh điện thờ tiền hiền, hậu hiền - những người đã có công trong việc khai phá và xây dựng vạn chài Cổ Lũy Nam nhiều trăm năm trước.

Dù đã bị mất mát khá nhiều, nhưng lăng Cổ Lũy Nam vẫn còn những hiện vật như 4 bộ xương Cá Ông và đặc biệt là sắc phong của vua Thiệu Trị ban cho làng Cổ Lũy Nam phụng sự vào năm 1842 (tức năm Thiệu Trị thứ 3). Bản sắc phong thần này ít nhiều cho biết về nguồn gốc cũng như đối tượng chính được phụng thờ tại lăng Cổ Lũy Nam xưa kia. Đó chính là Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ vị Thánh nương (tức bốn vị nữ thần biển ở Phương Nam), vốn được các triều vua từ thời nhà Trần, nhà Hậu Lê và cả triều đại phong kiến Việt Nam sau này cho phép cư dân ven biển khắp cả nước được phụng thờ, đặc biệt từ Thanh Hóa đến Quảng Nam, Quảng Ngãi. Đến thời vua Thiệu Trị, sắc phong cho biết, nhà vua đã ban cho Tứ vị Thánh Nương các danh hiệu: Hàm Hoằng, Quang Đại, Chí Đức, Phổ Bác, Hiển Hóa, tức: Bao dung, rộng lớn; sáng chói, cao cả, đức độ tuyệt vời; phổ cập, rộng lớn; hiển linh, biến hóa.

Theo lệ hằng năm lăng Cổ Lũy Nam tổ chức tế lễ hai lần như các nơi khác, là xuân thu nhị kỳ. Mùa xuân lễ tế được tiến hành vào ngày 24 tháng hai (âm lịch) và lệ thu vào ngày rằm tháng 7 âm lịch. Những ngày diễn ra tế lễ, người dân thôn Cổ Lũy Nam tụ họp về lăng để tham gia lễ tế.
Từ sáng sớm, cư dân vạn chài Cổ Lũy Nam tổ chức lễ cúng cầu cho quốc thái dân an, dân yên vật thịnh; buổi trưa cúng ngọ, tế các vị thánh thần; buổi chiều cúng hoàn kinh và cúng thí thực cô hồn, là nghi thức đã trộn lẫn yếu tố tín ngưỡng của Phật giáo. Buổi tối đoàn thuyền nghinh thần từ từ tiến ra cửa đại để cung thỉnh các vị thần linh, như Tứ Vị Thánh Nương, Nam Hải cự tộc ngọc thượng đẳng thần, Thủy Long thần nữ và những phúc thần trên biển, trên sông khác, cùng những linh hồn vốn bị trôi dạt do nhiều lẽ khác nhau.

Trong lễ nghinh thần, người dân Cổ Lũy Nam còn thả hàng ngàn chiếc hoa đăng lấp lánh cả một quãng sông dài. Hàng ngàn chiếc đèn hoa được làm bằng giấy ngũ sắc được thả trôi dọc từ phía cửa Đại Cổ Lũy ngược lên hết cả một chặng sông dài Phú Thọ. Đây là nhánh sông nối liền vùng cửa Đại và cửa Lở và là nhánh sông nối liền con sông Trà Khúc với Sông Vệ.

Nếu nhìn một cách tổng quát về đối tượng thờ phụng hiện nay tại lăng Cổ Lũy Nam và những nghi thức diễn ra trong ngày lễ cầu mùa thì có thể nhận thấy, nơi đây có sự tích hợp nhiều yếu tố văn hóa tín ngưỡng dân gian, hay nói khác hơn là có nhiều lớp văn hóa tín ngưỡng chồng xếp lên nhau. Đó là văn hóa Chăm - biểu hiện trong việc thờ Cá Voi; văn hóa Hoa - biểu diễn trong việc thờ Cửu Huyền thất tổ, Cửu Thiên Huyền nữ; văn hóa Phật giáo, Đạo giáo trong lễ tế; và văn hóa Việt, là cốt lõi, thờ tiền hiền, hậu hiền, tiền vãng, hậu vãng, những người đã có công khai khẩn khai cơ.

Lễ hội cầu mùa, cầu ngư hàng năm là một hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của cư dân vạn chài, rất phổ biến ở các vùng ven biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ nói chung và vùng ven biển Quảng Ngãi nói riêng. Hình thức lễ hội và đối tượng thờ phụng mang tính nhân văn cao cả, thể hiện sự biết ơn của ngư dân đối với những người đã giúp đỡ mình, đồng thời qua đó cầu cho mưa thuận gió hòa, cho cuộc sống con người luôn đủ đầy, no ấm và cũng là dịp nâng cao tinh thần cố kết cộng đồng trong làng, trong vạn.
Baoquangngai