quangngai_group
12-04-11, 08:30 PM
Văn hoá Sa Huỳnh hết sức phong phú, dựa trên tầng văn hoá và các di vật sinh hoạt để lại, khẳng định nó là văn hoá bản địa, đồng đại với Văn hoá Đông Sơn ở dạng nguyên thể của nó vùng đồng bằng Bắc Bộ, và có mối giao thoa, tương tác lẫn nhau ở vùng bắc Trung Bộ. Đông Sơn cũng như Sa Huỳnh chắc chưa hề bị văn hoá Hán xâm nhập (thời kỳ này Văn hoá Trung Hoa ở phương Bắc đã phát triển rực rỡ, văn tự Hán ngữ đã sử dụng rộng rãi).
Trong trường hợp đồng đại thì tỷ như với văn hoá Hán, người nghiên cứu hẳn sẽ dễ dàng hơn nhiều, bởi bên cạnh các di vật còn có cả văn tự. Với Sa Huỳnh cũng như với Đông Sơn, thì khác hẳn. Văn tự ghi chép không có, tất cả đều trông chờ vào việc khai quật, vào "thông điệp" tự thân của các di vật, nên bên cạnh những cái có thể khẳng định, vẫn còn nhiều cái chưa biết, cái chưa biết chiếm một tỷ lệ lớn so với cái đã biết, cho nên các nhà nghiên cứu lúc này lúc khác không khỏi có cái cảm giác lúng túng. Nếu người Sa Huỳnh ở đâu ngoài biển bỗng dưng đưa người chết vào táng ở những cồn cát rồi đi đâu, thật khó lý giải. Nếu đã khẳng định người Sa Huỳnh là một tộc người bản địa, thì đó là tộc người nào, hậu duệ của họ là người Chăm, người Việt hay một dân tộc nào khác trên đất nước Việt Nam, và chứng cứ trong mối kế tục văn hoá ở đâu, cũng chính là một bài toán nan giải. Có một điều rất tâm đắc mà có lẽ nhiều người không để ý: đó chính là khi người Việt tiếp xúc với các di vật Sa Huỳnh đều cảm thấy rất gần gũi với mình.
http://yeuquangngai.net/upload/images/yeuquangngai.net_4tueskp27c25l45ae7tp.jpg (http://yeuquangngai.net/upload/viewer.php?file=4tueskp27c25l45ae7tp.jpg)
Hiện vật văn hoá Sa Huỳnh.
Có thể chính đó là những cảm giác những gì đã lặng đi từ mấy nghìn năm, bởi không biết bao biến động trên khắp đất nước Việt Nam tự nhiên khởi phát lại. Có một cái gì đó như mối dây vô hình của anh, của tôi, của chúng ta với quá khứ Văn hoá Sa Huỳnh cách nay vài ba thiên niên kỷ. Và thi thoảng tôi lại thấy bóng dáng Sa Huỳnh trong chính những sinh hoạt của người Việt thời về sau, kéo dài đến thời hiện đại. Bóng dáng đó là gì vậy? Những chiếc nồi đồng đít bè tròn, bẻ góc ở bụng, thắt lại ở cổ phải chăng là hình bóng của những chiếc lọ gốm rất đỗi đặc trưng của Sa Huỳnh? Tại sao người ta lại chẳng đúc những chiếc nồi đít phẳng? Tại sao lại cổ thắt, lại phải bẻ góc cong ở phần bụng, để khi để dành ít cơm cho người ăn sau, người Việt lại ếm vào góc đó, để khi người sau đem ra ăn, lại phải mất công móc vào hóc nồi. Hình thể của chiếc nồi đồng ngày nay phải chăng chính là "hậu duệ" của những chiếc lọ gốm Sa Huỳnh? Khi nhìn vào cái đụt bắt cua của người H’re ở miền tây Quảng Ngãi, tôi thấy nó chính là một "bản sao" của chiếc lọ gốm có đai thắt trong Văn hoá Sa Huỳnh.
Khi nhìn những chiếc khuyên tai, những chuỗi hạt đeo cổ bằng đá của Sa Huỳnh, thì một điều rất rõ là nó không quá lạ mắt đối với người Việt. Tương tự như vậy ta có thể thấy bóng dáng của những đường cong lượn của chiếc mộ chum Sa Huỳnh, các lọ gốm Sa Huỳnh ở những vật dụng của người Việt, như cái ống nhổ cổ trầu. Người ta cũng lại dễ thấy có mối dây liên hệ nào đó giữa những chiếc bình hình trứng tìm thấy ở Lý Sơn cũng như nhiều nơi khác ở những chiếc lu, vại chứa nước của người Việt, ở những chiếc ché rượu của dân tộc thiểu số vùng cao, thể hiện ở cách tạo dáng vai nở và cao, đít túm, cổ lùn, miệng túm. Còn rất rõ là những chiếc bát bồng, có thể người Sa Huỳnh xưa kia dùng trong cuộc sống hằng ngày, còn người Việt hiện đại thì thường đặt trên bàn thờ gia tiên kính cẩn, đều có kiểu dáng không khác nhau là mấy, hầu như chỉ khác nhau về chất liệu. Điều đáng lưu ý là những sự tương đồng như vậy không phải xuất phát từ sự bắt chước: trước khi phát hiện các di vật Sa Huỳnh 1909, chắc hẳn người Việt chưa hề thấy nó.
Từ năm 1909 trở về sau, cũng chỉ rất ít người Việt thấy được những di vật Sa Huỳnh. Càng ít hơn và hầu như không có, là những nghệ nhân gốm sứ đã không hề thấy, không hề biết các di vật Văn hoá Sa Huỳnh. Vậy thì, nếu không phải những khoảng lặng sâu trong tâm thức, hay sự lưu truyền qua nhiều thế hệ mà thế hệ sau do khoảng cách thời gian vài ba ngàn năm với lớp lớp người chôn vùi trong lòng đất đến mức không còn biết gốc tích cội nguồn của nó, thì những đường cong, những góc bẻ đột ngột như vậy, lấy từ đâu ra?
Người ta có thể nghĩ tới sự tương đồng ngẫu nhiên của các nền văn hoá xa cách nhau về không gian, thời gian, không có mối liên hệ gì với nhau, nhưng sự tương đồng với số lượng nhiều, đặc biệt tương đồng về cái "gout" thẩm mỹ rất đặc trưng như vậy, liệu có phải chỉ là ngẫu nhiên? Nếu quan sát kỹ hơn những dáng nét của các hiện vật Sa Huỳnh với các nhân tố văn hoá hiện tồn của các dân tộc Việt Nam, hẳn còn thấy nhiều sự tương đồng khác. Trong tâm thức của người Việt lại không thể thiếu văn hoá tre trúc, mà trong chuỗi cườm của người Sa Huỳnh, cũng có chuỗi cườm hình đốt trúc. Trong hoàn cảnh một nền văn hoá cổ không "đính kèm" văn tự, điều tốt nhất là cần biết "đọc" trong những hiện vật, đặc biệt là ở kiểu dáng của nó, những lời của người xưa vùi trong lòng đất, những thông điệp mang ý nghĩa sâu xa của cư dân trong một không gian có tính đặc thù.
Người Sa Huỳnh xưa thuộc về thời tiền sử, thời sơ sử, đương nhiên có những nhân tố kém (hoặc khác) thời hiện đại. Tuy nhiên tôi đọc thấy ở nền văn hoá đó có nét tương đồng rất lớn với văn hoá thời kỳ sau và văn hoá đương đại. Đó là hệ thống văn hoá không quá trọng tính nhân tạo, những đền đài uy nghi tráng lệ, mà là một nền văn hoá hoà hợp với tự nhiên, mang tính nhân văn hơn.
Muốn nhận diện đúng về Văn hoá Sa Huỳnh, khẳng định Văn hoá Sa Huỳnh là văn hoá bản địa chứ không phải từ đâu du nhập, thì tại sao chúng ta chẳng tìm bóng dáng của nó? Chẳng lẽ những người Sa Huỳnh xưa vùi chôn vào lòng đất để "giấu" hậu duệ một nền văn hoá rất đáng tự hào do mình tạo tác ra bằng cả trái tim và khối óc hay chăng? Bởi thế mà chúng tôi thiết nghĩ, với Văn hoá Sa Huỳnh, một mặt chúng ta rất cần tìm chỗ nối kết của nó với dòng chảy văn hoá ngay sau nó, mặt khác cần tìm thấy những bóng dáng của nó lưu truyền mãi đến ngày nay. Đó là những cách tiếp cận rất căn cốt mà tiếc rằng chưa được chú ý đúng mức. Dù ở đây tôi chỉ dám nói mình đang "sờ voi", thì khách quan mà xét, việc tìm hiểu theo cách như vậy sẽ rất hữu ích về nhiều mặt với đời sống hiện đại.
Báo Quảng Ngãi
Trong trường hợp đồng đại thì tỷ như với văn hoá Hán, người nghiên cứu hẳn sẽ dễ dàng hơn nhiều, bởi bên cạnh các di vật còn có cả văn tự. Với Sa Huỳnh cũng như với Đông Sơn, thì khác hẳn. Văn tự ghi chép không có, tất cả đều trông chờ vào việc khai quật, vào "thông điệp" tự thân của các di vật, nên bên cạnh những cái có thể khẳng định, vẫn còn nhiều cái chưa biết, cái chưa biết chiếm một tỷ lệ lớn so với cái đã biết, cho nên các nhà nghiên cứu lúc này lúc khác không khỏi có cái cảm giác lúng túng. Nếu người Sa Huỳnh ở đâu ngoài biển bỗng dưng đưa người chết vào táng ở những cồn cát rồi đi đâu, thật khó lý giải. Nếu đã khẳng định người Sa Huỳnh là một tộc người bản địa, thì đó là tộc người nào, hậu duệ của họ là người Chăm, người Việt hay một dân tộc nào khác trên đất nước Việt Nam, và chứng cứ trong mối kế tục văn hoá ở đâu, cũng chính là một bài toán nan giải. Có một điều rất tâm đắc mà có lẽ nhiều người không để ý: đó chính là khi người Việt tiếp xúc với các di vật Sa Huỳnh đều cảm thấy rất gần gũi với mình.
http://yeuquangngai.net/upload/images/yeuquangngai.net_4tueskp27c25l45ae7tp.jpg (http://yeuquangngai.net/upload/viewer.php?file=4tueskp27c25l45ae7tp.jpg)
Hiện vật văn hoá Sa Huỳnh.
Có thể chính đó là những cảm giác những gì đã lặng đi từ mấy nghìn năm, bởi không biết bao biến động trên khắp đất nước Việt Nam tự nhiên khởi phát lại. Có một cái gì đó như mối dây vô hình của anh, của tôi, của chúng ta với quá khứ Văn hoá Sa Huỳnh cách nay vài ba thiên niên kỷ. Và thi thoảng tôi lại thấy bóng dáng Sa Huỳnh trong chính những sinh hoạt của người Việt thời về sau, kéo dài đến thời hiện đại. Bóng dáng đó là gì vậy? Những chiếc nồi đồng đít bè tròn, bẻ góc ở bụng, thắt lại ở cổ phải chăng là hình bóng của những chiếc lọ gốm rất đỗi đặc trưng của Sa Huỳnh? Tại sao người ta lại chẳng đúc những chiếc nồi đít phẳng? Tại sao lại cổ thắt, lại phải bẻ góc cong ở phần bụng, để khi để dành ít cơm cho người ăn sau, người Việt lại ếm vào góc đó, để khi người sau đem ra ăn, lại phải mất công móc vào hóc nồi. Hình thể của chiếc nồi đồng ngày nay phải chăng chính là "hậu duệ" của những chiếc lọ gốm Sa Huỳnh? Khi nhìn vào cái đụt bắt cua của người H’re ở miền tây Quảng Ngãi, tôi thấy nó chính là một "bản sao" của chiếc lọ gốm có đai thắt trong Văn hoá Sa Huỳnh.
Khi nhìn những chiếc khuyên tai, những chuỗi hạt đeo cổ bằng đá của Sa Huỳnh, thì một điều rất rõ là nó không quá lạ mắt đối với người Việt. Tương tự như vậy ta có thể thấy bóng dáng của những đường cong lượn của chiếc mộ chum Sa Huỳnh, các lọ gốm Sa Huỳnh ở những vật dụng của người Việt, như cái ống nhổ cổ trầu. Người ta cũng lại dễ thấy có mối dây liên hệ nào đó giữa những chiếc bình hình trứng tìm thấy ở Lý Sơn cũng như nhiều nơi khác ở những chiếc lu, vại chứa nước của người Việt, ở những chiếc ché rượu của dân tộc thiểu số vùng cao, thể hiện ở cách tạo dáng vai nở và cao, đít túm, cổ lùn, miệng túm. Còn rất rõ là những chiếc bát bồng, có thể người Sa Huỳnh xưa kia dùng trong cuộc sống hằng ngày, còn người Việt hiện đại thì thường đặt trên bàn thờ gia tiên kính cẩn, đều có kiểu dáng không khác nhau là mấy, hầu như chỉ khác nhau về chất liệu. Điều đáng lưu ý là những sự tương đồng như vậy không phải xuất phát từ sự bắt chước: trước khi phát hiện các di vật Sa Huỳnh 1909, chắc hẳn người Việt chưa hề thấy nó.
Từ năm 1909 trở về sau, cũng chỉ rất ít người Việt thấy được những di vật Sa Huỳnh. Càng ít hơn và hầu như không có, là những nghệ nhân gốm sứ đã không hề thấy, không hề biết các di vật Văn hoá Sa Huỳnh. Vậy thì, nếu không phải những khoảng lặng sâu trong tâm thức, hay sự lưu truyền qua nhiều thế hệ mà thế hệ sau do khoảng cách thời gian vài ba ngàn năm với lớp lớp người chôn vùi trong lòng đất đến mức không còn biết gốc tích cội nguồn của nó, thì những đường cong, những góc bẻ đột ngột như vậy, lấy từ đâu ra?
Người ta có thể nghĩ tới sự tương đồng ngẫu nhiên của các nền văn hoá xa cách nhau về không gian, thời gian, không có mối liên hệ gì với nhau, nhưng sự tương đồng với số lượng nhiều, đặc biệt tương đồng về cái "gout" thẩm mỹ rất đặc trưng như vậy, liệu có phải chỉ là ngẫu nhiên? Nếu quan sát kỹ hơn những dáng nét của các hiện vật Sa Huỳnh với các nhân tố văn hoá hiện tồn của các dân tộc Việt Nam, hẳn còn thấy nhiều sự tương đồng khác. Trong tâm thức của người Việt lại không thể thiếu văn hoá tre trúc, mà trong chuỗi cườm của người Sa Huỳnh, cũng có chuỗi cườm hình đốt trúc. Trong hoàn cảnh một nền văn hoá cổ không "đính kèm" văn tự, điều tốt nhất là cần biết "đọc" trong những hiện vật, đặc biệt là ở kiểu dáng của nó, những lời của người xưa vùi trong lòng đất, những thông điệp mang ý nghĩa sâu xa của cư dân trong một không gian có tính đặc thù.
Người Sa Huỳnh xưa thuộc về thời tiền sử, thời sơ sử, đương nhiên có những nhân tố kém (hoặc khác) thời hiện đại. Tuy nhiên tôi đọc thấy ở nền văn hoá đó có nét tương đồng rất lớn với văn hoá thời kỳ sau và văn hoá đương đại. Đó là hệ thống văn hoá không quá trọng tính nhân tạo, những đền đài uy nghi tráng lệ, mà là một nền văn hoá hoà hợp với tự nhiên, mang tính nhân văn hơn.
Muốn nhận diện đúng về Văn hoá Sa Huỳnh, khẳng định Văn hoá Sa Huỳnh là văn hoá bản địa chứ không phải từ đâu du nhập, thì tại sao chúng ta chẳng tìm bóng dáng của nó? Chẳng lẽ những người Sa Huỳnh xưa vùi chôn vào lòng đất để "giấu" hậu duệ một nền văn hoá rất đáng tự hào do mình tạo tác ra bằng cả trái tim và khối óc hay chăng? Bởi thế mà chúng tôi thiết nghĩ, với Văn hoá Sa Huỳnh, một mặt chúng ta rất cần tìm chỗ nối kết của nó với dòng chảy văn hoá ngay sau nó, mặt khác cần tìm thấy những bóng dáng của nó lưu truyền mãi đến ngày nay. Đó là những cách tiếp cận rất căn cốt mà tiếc rằng chưa được chú ý đúng mức. Dù ở đây tôi chỉ dám nói mình đang "sờ voi", thì khách quan mà xét, việc tìm hiểu theo cách như vậy sẽ rất hữu ích về nhiều mặt với đời sống hiện đại.
Báo Quảng Ngãi