PDA

View Full Version : Tầm vóc cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và tác động của nó trong cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam


Hoang_philong
27-08-09, 11:44 PM
45 năm trước, vào ngày 28/8/1959 cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi bùng nổ, đánh một đòn chí mạng vào chính quyền tay sai Mỹ không chỉ riêng ở Quảng Ngãi mà cả miền Nam Việt Nam. Sự kiện này như là hồi chuông báo trước cơn bão táp cách mạng của nhân dân miền Nam nhất định sẽ nổ ra.

Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi nổ ra trong bối cảnh phong trào cách mạng miền Nam bị địch dìm trong biển máu bằng các chiến dịch “Tố cộng, diệt Cộng”, “Luật 10/59” và bằng những trận càn quét, khủng bố liên miên của quân đội, cảnh sát chính quyền Sài Gòn. Các cơ sở cách mạng bị địch phá hoại làm cho một số cán bộ, đảng viên và quần chúng hoang mang, dao động trong khi đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam chưa được xác định rõ ràng và cụ thể. Cán bộ, đảng viên, quần chúng bị áp bức cùng cực muốn vùng lên đánh đổ Mỹ-Diệm, nhưng không tìm được lối đi, lại sợ cấp trên phê bình, bắt tội. Trên thế giới, các nước XHCN đang thực thi con đường cùng tồn tại hoà bình, giữ cách mạng trong thế thủ. Liên Xô, Trung Quốc lại bất động về đường lối, mâu thuẫn phát sinh ngày càng gay gắt giữa hai nước lớn. Họ khuyên ta nên thi đua xây dựng hoà bình giữa hai miền, chờ đợi thời cơ...Có thể nói đây là thời kỳ khó khăn nhất của phong trào cách mạng ở miền Nam từ sau Hiệp định Giơnevơ và đây cũng là thời kỳ khủng hoảng về đường lối và phương pháp cách mạng ở miền nam.

Tình hình Quảng Ngãi cũng tương tự như vậy, trong các năm 1956, 1957, 1958 đảng viên và các tổ chức Đảng ở các huyện đồng bằng bị địch phá hoại, cán bộ cốt cán bị sát hại, phong trào đấu tranh bị dập tắt. Những đảng viên, cán bộ còn sống sót sau những trận khủng bố thì nằm im không hoạt động được, số khác phải chạy dạt lên miền núi dựa vào địa thế hiểm trở để bảo toàn lực lượng và gây dựng phong tào. Ở 4 huyện miền Tây, địch đã lập được chính quyền tay sai cấp huyện, quận và bắt đầu xây dựng chính quyền cấp xã. Xung quanh các quận lỵ, thiết lập hệ thống đồn bót, tháp canh để khống chế, kiểm soát nhân dân. Mặc dù vậy, cán bộ, đảng viên hoạt động ở 4 huyện miền Tây vẫn bám sát quần chúng, sát phong trào nên lãnh đạo giải quyết kịp thời những bức xúc của nhân dân trong đấu tranh, trong xây dựng căn cứ miền Tây và xây dựng lực lượng. Trong hoàn cảnh ấy, lực lượng lãnh đạo ở 4 huyện miền Tây chẳng những được bảo toàn, chi bộ Đảng được củng cố mà còn được tăng cường về số lượng, chất lượng từ các huyện đồng bằng lên. Cuối năm 1958, sau cơn khủng bố trắng của địch, ở các huyện đồng bằng, chi bộ Đảng nhiều nơi dần dần được phục hồi, riêng miền núi 20 xã của Trà Bồng, 10 xã của Sơn Hà đều có chi bộ Đảng. Các huyện Ba Tơ, Minh Long hầu hết các xã có chi bộ Đảng. Đây là điều kiện cơ bản của cách mạng được Đảng bộ Quảng Ngãi mà trước hết là Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh tạo ra một cách bất ngờ trong tình hình mà khủng bố, chém giết những người dân vô tội được coi là nhiệm vụ chủ yếu của kẻ cầm quyền. Đánh đổ một chế độ độc tài, phát xít như vậy dù là ở phạm vi một địa phương cũng không phải dễ dàng. Bởi vì chế độ tay sai Mỹ ở miền Nam, ở cấp Trung ương hay địa phương cũng đều tập hợp chung quanh nó những tên tư sản mại bản thân Mỹ, những thế lực địa chủ phong kiến và những phần tử công giáo phản động chống lại nhân dân, thì những người cách mạng không được chủ quan, coi thường mà phải tỉnh táo, chuẩn bị kỹ càng trước về mọi mặt để khi có thời điểm thích hợp (thời cơ) thì phát động quần chúng vào cuộc tiến công không được sớm một phút vì như Lênin nói sẽ dậy non, cũng không thể muộn một phút vì như vậy sẽ bỏ lỡ thời cơ. Lãnh đạo Quảng Ngãi ý thức được điều này nên đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc Quảng Ngãi chuẩn bị kỹ càng về mọi mặt, sẵn sàng đón trước thời cơ hành động.

Bởi vậy, trong khi nhiều nơi ở miền Nam còn lúng túng về phương châm, phương pháp đấu tranh chống đế quốc Mỹ thì Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đã biết dựa vào quần chúng, tin tưởng quần chúng và vì quyền lợi của quần chúng để tập hợp lực lượng, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi. Hội nghị Gò Rô tháng 7-1958 là một minh chứng cho tư tưởng lớn đó. Tại Hội nghị Tỉnh uỷ lần thứ VI (ngày 25-5-1958) thông qua kế hoạch xây dựng căn cứ miền Tây, Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đã tìm ra được phương châm đấu tranh 3 vùng miền núi là vùng cao, vùng thấp, vùng giáp ranh đồng bằng và phương pháp đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang. Đó là một sáng tạo xuất sắc về phương châm, phương pháp cách mạng của Quảng Ngãi để chỉ đạo cuộc khởi nghĩa Trà Bồng, mà mãi sau này trong Nghị quyết tháng 1-1961 của Bộ Chính trị khi bàn về “phương hướng, nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam”, Đảng ta mới xác định phương châm đấu tranh 3 vùng và chính trị song song với vũ trang (vùng rừng núi, vùng nông thôn đồng bằng và vùng đô thị).

Sở dĩ Tỉnh uỷ Quảng Ngãi sớm nhận ra và chủ trương đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang trên cả 3 vùng là vì cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi được chuẩn bị khá kỹ trong thời gian 4 năm 10 tháng kể từ Hội nghị Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đầu tiên sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đồng thời kế thừa kinh nghiệm cuộc khởi nghĩa Ba Tơ năm 1945 và 9 năm kháng chiến chống Pháp. Trong Hội nghị tháng 10-1954, Tỉnh uỷ bàn sắp xếp lại tổ chức và phương châm, phương pháp đấu tranh mới và xác định con đường giải phóng Quảng Ngãi phải là con đường bạo lực cách mạng. Từ Hội nghị đầu tiên đến cuộc khởi nghĩa Trà Bồng, Tỉnh uỷ Quảng Ngãi tiến hành 10 cuộc hội nghị và đều kiên định tư tưởng cách mạng tiến công và con đường bạo lực cách mạng, trong đó Hội nghị tháng 2-1958, ở xóm Di Ngân bàn về việc chuẩn bị tích trữ vật chất, đẩy mạnh sản xuất tự túc, xây dựng lực lượng vũ trang đựoc coi là Hội nghị mở đầu cho chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa ở Trà Bồng và Quảng Ngãi. Thời gian là sức mạnh, 4 năm 10 tháng là quãng thời gian không dài nhưng cũng không ngắn cho một quá trình cách mạng ở một vùng rừng núi đa số là đồng bào dân tộc ít người không biết chữ, sống du canh, du cư, ý thức được khả năng của mình mà chuyển từ “tự phát” sang “tự giác”, tự nguyện đứng vào hàng ngũ cách mạng của nhân dân, chiến đấu chống kẻ thù xâm lược và áp bức. Trong thời gian đó, Tỉnh uỷ Quảng Ngãi đã giác ngộ, vận động thanh niên các dân tộc ít người thành lập 4 đơn vị vũ trang trước, trong và sau cuộc khởi nghĩa Trà Bồng, mò mẫm trong rừng sâu, vượt qua đồn bót của địch tìm súng chôn giấu trước khi tập kết lực lượng ra Bắc để trang bị cho các đơn vị; xây dựng căn cứ, tích trữ lương thảo, chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức, bố trí sắp xếp lực lượng cho cuộc khởi nghĩa. Đó là một kỳ công trong công tác chuẩn bị của toàn Đảng bộ và toàn dân Quảng Ngãi trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, không thể một sớm một chiều mà làm được như vậy.

Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi nổ ra lúc kẻ xâm lược là đế quốc Mĩ mạnh nhất thế giới, là một siêu cường chưa từng bị thua trận trong các cuộc chiến tranh trước đó nên rất hung hăng, xảo quyệt; chính quyền Ngô Đình Diệm, tay sai Mĩ được xây dựng, củng cố trở thành một chính quyền độc tài, phát xít, có một đội quân 10 sư đoàn chính quy, được trang bị hiện đại, được chúng liệt vào loại mạnh nhất, nhì Đông Nam Á. Xe tăng, máy bay, tàu chiến Mĩ trang bị cho quân ngụy hàng ngày làm chủ mặt đất, bầu trời, mặt biển miền Nam Việt Nam, yểm trợ cho quân lính hành quân, càn quét tàn phá làng mạc, ruộng vườn, giết người, cướp của nhưng không gặp một sự kháng cự nào đáng kể. Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi bùng nổ vào lúc 5 giờ sáng, đúng thời cơ khi quân thù chưa kịp chuẩn bị đối phó. Đó là cuộc tiến công chọc trời có ý nghĩa chiến lược là trận đột phá khẩu xuất sắc của quần chúng cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng vào khâu yếu nhất của Chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mĩ ở miền Nam Việt Nam. Bất ngờ và kinh ngạc bởi lần đầu tiên nhân dân các dân tộc Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi đập tan ách thống trị của Mĩ-Diệm, giành quyền làm chủ trên một vùng rộng 3.600 km2 có tầm chiến lược quan trọng bằng 2/3 diện tích của toàn tỉnh, chọc thủng một mắc xích trọng yếu trong hệ thống cai trị của Mĩ-nụuy. Một cuộc khởi nghĩa có tầm vóc to lớn và ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi có thể ví như một lượng nổ cực mạnh làm rung chuyển chính quyền nguỵ ở nhiều tỉnh, thành phố, có tác động tích cực đến phong trào đấu tranh chống Mĩ-Diệm không chỉ ở Quảng Ngãi mà cả Trung Trung Bộ, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh cách mạng trên toàn miền Nam. Sau cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, nhân dân các dân tộc làng Xung Ia O ở An Khê, Mang Khênh (Kon Tum), Buôn Sâm (Đắc Lắc) nổi dậy diệt ác, giành quyền làm chủ và một phong trào vũ trang diệt ác nổi lên khắp các tỉnh đồng bằng Khu V. Ở các tỉnh cực Nam Trung Bộ như Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, các đội vũ trang công tác đã thọc sâu xuống đồng bằng, diệt ác ôn ở Ba Ngòi (Khánh Hoà), Dư Khánh (Ninh Thuận), Năm Chân (Bình Thuận), xây dựng cơ sở có kết quả. Khí thế của quần chúng cách mạng đang nhen nhóm lại được thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng cổ vũ, quân dân Ninh Thuận đã đánh bại cuộc càn quét của 6 tiểu đoàn chủ lực nguỵ vào căn cứ Bắc Ái mang tên “Tây Khánh Bắc Ninh”; quân dân Quảng Ngãi đã đánh bại cuộc càn của Sư đoàn 22 quân Cộng hoà lên miền Tây Quảng Ngãi, bảo vệ thắng lợi căn cứ Trà Bồng…Tác động của cuộc khởi nghĩa có sức lan toả rộng và sâu trên toàn miền Nam. G. Sappha (Georges Chafarrd) nghiên cứu hai cuộc chiến tranh Việt Nam (từ Valuy đến Westmoreland) ghi nhận rằng: Mọi việc khởi đầu từ tháng 8-1959 tại tỉnh Quảng Ngãi, dân tộc Cor các bộ lạc lân cận đã liên kết với những người khởi nghĩa chống Diệm. Tin vụ biến động tại Quảng Ngãi đã truyền đến Nam Kỳ, ở khắp nơi, những cán bộ Việt Minh thoát khỏi các cuộc đàn áp của Diệm đã họp nhau lại bàn tán tin này. Và cuộc chống đối vũ trang đầu tiên của nhân dân các dân tộc Trà Bồng đã tác động và được coi như một sự khích lệ. Họ liền bàn nhau tìm cách tập hợp lực lượng chống Diệm.

Nhân lúc Mỹ-Diệm lo đối phó với cách mạng ở Quảng Ngãi, Bình Định, Ninh Thuận, những tháng cuối năm 1959, hoạt động vũ trang chống Diệm nổi lên ở các tỉnh Cà Mau, Kiến Phong, Kiến Tường, An Xuyên, Bến Tre, Long An, Cần Thơ...Tháng 12 năm 1959, trong một báo cáo tóm tắt về tình hình Quân khu V (lúc này là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long), Bộ Tổng tham mưu ngụy đã ghi nhận như sau: “Tình hình đặc biệt nghiêm trọng, bởi ngoài các vụ khủng bố, ám sát thường xuyên, hoạt động vũ trang của Việt Cộng gia tăng. Nhiều vụ phục kích các toán tuần tiễu của ta (ngụy) và đột nhập vào các cơ sở hưong thôn, Việt Cộng còn tấn công cả ban ngày bằng súng máy và phóng lựu đạn vào Châu Thành, tỉnh Kiến Tường. Rõ ràng Việt Cộng tiếp tục theo đuổi chủ trương như vụ biến ở Quảng Ngãi và cố gắng tạo thế chủ động với các hoạt động táo bạo như chấp nhận giao tranh ... nhất là ở các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường, An Xuyên, Kiến Giang...”. Chúng ta không cho rằng cuộc khởi nghĩa Trà Bồng đã tác động làm cho phong trào đấu tranh ở Nam Bộ bột khởi. Nam Bộ có đặc điểm riêng, nhưng cuộc khởi nghĩa Trà Bồng đối với Nam Bộ có thể ví như một chất xúc tác làm cho quá trình phản ứng hóa học nhanh hơn. Đó là sự tác động qua lại tất yếu của các phong trào đấu tranh cách mạng giữa các vùng, miền cùng chung kẻ thù, cùng chung mục đích.

Cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân Quảng Ngãi và cả nước.

(Lược trích bài tham luận của Đại tá Nguyễn Văn Minh-Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)

Nguồn quangngai.gov.vn